google-site-verification=tqyZ3VHK2ppgN1GkzQ9JO8nR1MAGlWasNVgMbEMbp6c
Home / BỀN VỮNG VỀ XÃ HỘI / Cơ cấu dân số vàng và lao động giá rẻ: Lợi thế của Việt Nam khi hội nhập ?

Cơ cấu dân số vàng và lao động giá rẻ: Lợi thế của Việt Nam khi hội nhập ?

Chúng ta bàn khá nhiều, nói khá nhiều về “cơ hội dân số vàng” và nhân công giá rẻ là lợi thế của Việt Nam. Điều này là đúng khi chúng ta mới “mở cửa” và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, sau gần 30 năm đổi mới, quan điểm này cần phải nhìn nhận lại. Nhân dịp chúng ta trở thành công dân của cộng đồng ASEAN, xin được lạm bàn về lợi thế của Việt Nam dưới giác độ phát triển nguồn nhân lực.

Cơ cấu dân số vàng- cơ hội và thách thức

Như đã biết, dân số nước ta đã vượt ngưỡng 90 triệu người từ đầu năm 2014 và cho đến thời điểm này chúng ta vẫn đang thuộc nhóm nước có cơ cấu dân trẻ, mặc dù đã có xu hướng già hóa dân số. Mỗi năm nước ta có khoảng 1,2-1,3 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động và tham gia vào thị trường lao động. Đây là nhân tố rất quan trọng để đổi mới lực lượng lao động (LLLĐ) theo hướng “trẻ hóa”, là nhân tố để tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Đương nhiên, để tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế còn có nhiều nhân tố khác tác động tới. Tuy nhiên, dưới giác độ nhân khẩu học, đây là một trong những nhân tố rất quan trọng. Vấn đề đặt ra là chúng ta có tận dụng được cơ cấu dân số vàng này không.

Cũng cần nhắc lại, theo khái niệm về “cơ cấu dân số vàng” thì một quốc gia được coi có cơ cấu dân số vàng là khi trong cơ cấu dân số cứ hai người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi đến 64 tuổi) thì chỉ có một người phụ thuộc (trên 64 tuổi và dưới 15 tuổi). Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” là cơ hội duy nhất, chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử phát triển dân số của mỗi quốc gia. Quốc gia nào tận dụng được cơ hội, khai thác được LLLĐ này thì sẽ phát triển thịnh vượng. Ngược lại, sẽ phải tốn rất nhiều nguồn lực khác để bù đắp cho việc không tận dụng được cơ hội; nhất là khi dân số bước vào ngưỡng già hóa “một người làm nuôi hai người phụ thuộc”.
Nếu như trước đây, lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có LLLĐ dồi dào và cơ cấu lao động “trẻ”, thì đến nay lợi thế này đã bắt đầu bị suy giảm vì nước ta đã vào ngưỡng của “dân số già”, tỷ lệ người cao tuổi đã chiếm trên 10% dân số.

Giai đoạn hiện nay là giai đoạn “vàng” cho việc phát huy LLLĐ trẻ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, rất tiếc, việc tận dụng lao động trẻ chưa hiệu quả, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ luôn ở mức cao trong những năm gần đây. Theo kết quả điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê năm 2014, số người thất nghiệp trong nhóm tuổi thanh niên (15-24 tuổi) chiếm tới 47,0% tổng số người thất nghiệp. Muốn tận dụng được cơ hội này, nghĩa là chúng ta phải tìm mọi biện pháp “toàn dụng” được lao động, khai thác, sử dụng tối đa nhóm lao động trong tuổi nêu trên.

Để làm được việc đó, cần phải có một lực lượng được đào tạo, có kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của thị trường lao động. Tuy nhiên, thực tế, cho đến nay, nhiều chuyên gia kinh tế và dân số học cho rằng chúng ta để cơ hội sắp trôi qua, đó là khi LLLĐ của Việt Nam chất lượng còn rất thấp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2011-2014, trong LLLĐ đang làm việc trong nền kinh tế, lao động phổ thông, không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 82,97%; lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ 4,71%; lao động có trình độ trung cấp (bao gồm cả trung cấp chuyên nghiệp) là 3,65%; và lao động có trình độ từ cao đẳng (bao gồm cả cao đẳng nghề), đại học trở lên chiếm 8,67%. Nói cách khác, đại đa số lao động Việt Nam vẫn là “lao động phổ thông”, lao động làm việc ở những khu vực có kỹ năng thấp, năng suất lao động thấp.

Chất lượng nguồn nhân lực thấp không chỉ ở “tỷ lệ qua đào tạo” mà còn thể hiện ở kỹ năng, năng lực làm việc của người lao động được đào tạo. Thực tế cho thấy, kỹ năng, năng lực thực hành của lao động qua đào tạo của Việt Nam phần lớn chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng lao động và sau khi tuyển dụng các doanh nghiệp phải đào tạo lại. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), có đến 60% số người đã qua đào tạo không biết làm việc với chuyên môn và trình độ được đào tạo.

Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Chất lượng của lao động Việt Nam thấp, nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần. Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Theo các chuyên gia kinh tế, cơ cấu dân số và cơ cấu lao động có tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế. Nếu tận dụng được cơ cấu dân số vàng thì có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Theo một tính toán, cứ tăng 1% dân số có việc làm của nhóm 15-59 tuổi thì GDP sẽ tăng lên 0,36% (VIDS và UNFPA, 2015). Với những số liệu nêu trên cho thấy,Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn trước cơ hội cơ cấu dân số vàng, đó là: Chưa toàn dụng được lao động trẻ (tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trẻ cao); và chưa nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực trẻ (tỷ lệ lao động có kỹ năng, có chuyên môn nghiệp vụ thấp). Nếu không giải được bài toán này, thì cơ hội cơ cấu dân số vàng của Việt Nam sẽ trôi qua và không bao giờ lặp lại được nữa.

Thách thức này đòi hỏi Việt Nam phải quyết liệt hơn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thông qua việc nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, đặc biệt là chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Cần phải có những giải pháp đồng bộ để có một LLLĐ trẻ không chỉ có trình độ chuyên môn giỏi và phải có các kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập (có ngoại ngữ, có kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm trong môi trường đa văn hóa).

Mất dần lợi thế lao động giá rẻ

Từ giác độ nguồn nhân lực, bên cạnh thách thức trước “cơ hội cơ cấu dân số vàng” Việt Nam còn đứng trước một thách thức cũng rất cơ bản khác, ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng, đó là lợi thế lao động giá rẻ mất dần.

Khi mới ở những năm đầu của “mở cửa”, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thấy được chi phí lao động thấp ở Việt Nam nên đã đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam (mặc dù với những công nghệ trung bình hoặc thấp). Các doanh nghiệp FDI chủ yếu tập trung vào hoạt động gia công, lắp ráp, nguyên vật liệu chủ yếu nhập ngoại nên giá trị gia tăng chưa cao, điển hình là các hoạt động lắp ráp ô tô, xe máy, điện – điện tử, may mặc, da giầy. Thời gian vừa qua các doanh nghiệp FDI đã thu hút được nhiều lao động phổ thông vào làm việc trong những công đoạn đơn giản của dây chuyền sản xuất công nghiệp. Theo báo cáo của Bộ kế hoạch và Đầu tư, hiện nay, khu vực FDI đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 3,2 triệu lao động trực tiếp và 3 – 4 triệu lao động gián tiếp. Đây là một thực tế quan trọng trong giai đoạn đầu của thời kỳ cơ cấu dân số vàng, góp phần rất quan trọng vào giải quyết việc làm và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt nam.

Tuy nhiên, khi Việt Nam Hội nhập sâu và rộng với kinh tế thế giới và khu vực, mức độ cạnh tranh sản phẩm ngày càng tăng lên, thậm chí ngày càng gay gắt. Do vậy, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm là yêu cầu sống còn đối với doanh nghiệp. Điều này, song song với đầu tư đổi mới công nghệ, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng lao động, hàm lượng chất xám trong chất lượng sản phẩm phải tăng lên. Để nâng cao giá trị sản phẩm Việt Nam trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, đòi hỏi những vị trí việc làm với những kỹ năng nghề nghiệp và trình độ nghề nghiệp cao. Lao động phổ thông sẽ dần giảm đi trong tổng nhân lực của các doanh nghiệp và thay vào đó là lao động có kỹ năng. Như vậy, tạo ra lực lượng có kỹ năng thông qua giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp là nhu cầu khách quan của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh cao. Lao động giá rẻ không còn là lợi thế của Việt Nam trong tương lai gần nữa và nếu không nhanh chóng có chiến lược đào tạo phù hợp, LLLĐ giá rẻ này sẽ lại trở thành rào cản và nguy cơ bị thất nghiệp cao, ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống an sinh xã hội quốc gia./.Cơ cấu dân số vàng- cơ hội và thách thức Như đã biết, dân số nước ta đã vượt ngưỡng 90 triệu người từ đầu năm 2014 và cho đến thời điểm này chúng ta vẫn đang thuộc nhóm nước có cơ cấu dân trẻ, mặc dù đã có xu hướng già hóa dân số. Mỗi năm nước ta có khoảng 1,2-1,3 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động và tham gia vào thị trường lao động. Đây là nhân tố rất quan trọng để đổi mới lực lượng lao động (LLLĐ) theo hướng “trẻ hóa”, là nhân tố để tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Đương nhiên, để tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế còn có nhiều nhân tố khác tác động tới. Tuy nhiên, dưới giác độ nhân khẩu học, đây là một trong những nhân tố rất quan trọng. Vấn đề đặt ra là chúng ta có tận dụng được cơ cấu dân số vàng này không. Cũng cần nhắc lại, theo khái niệm về “cơ cấu dân số vàng” thì một quốc gia được coi có cơ cấu dân số vàng là khi trong cơ cấu dân số cứ hai người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi đến 64 tuổi) thì chỉ có một người phụ thuộc (trên 64 tuổi và dưới 15 tuổi). Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” là cơ hội duy nhất, chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử phát triển dân số của mỗi quốc gia. Quốc gia nào tận dụng được cơ hội, khai thác được LLLĐ này thì sẽ phát triển thịnh vượng. Ngược lại, sẽ phải tốn rất nhiều nguồn lực khác để bù đắp cho việc không tận dụng được cơ hội; nhất là khi dân số bước vào ngưỡng già hóa “một người làm nuôi hai người phụ thuộc”. Nếu như trước đây, lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có LLLĐ dồi dào và cơ cấu lao động “trẻ”, thì đến nay lợi thế này đã bắt đầu bị suy giảm vì nước ta đã vào ngưỡng của “dân số già”, tỷ lệ người cao tuổi đã chiếm trên 10% dân số. Giai đoạn hiện nay là giai đoạn “vàng” cho việc phát huy LLLĐ trẻ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, rất tiếc, việc tận dụng lao động trẻ chưa hiệu quả, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ luôn ở mức cao trong những năm gần đây. Theo kết quả điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê năm 2014, số người thất nghiệp trong nhóm tuổi thanh niên (15-24 tuổi) chiếm tới 47,0% tổng số người thất nghiệp. Muốn tận dụng được cơ hội này, nghĩa là chúng ta phải tìm mọi biện pháp “toàn dụng” được lao động, khai thác, sử dụng tối đa nhóm lao động trong tuổi nêu trên. Để làm được việc đó, cần phải có một lực lượng được đào tạo, có kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của thị trường lao động. Tuy nhiên, thực tế, cho đến nay, nhiều chuyên gia kinh tế và dân số học cho rằng chúng ta để cơ hội sắp trôi qua, đó là khi LLLĐ của Việt Nam chất lượng còn rất thấp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2011-2014, trong LLLĐ đang làm việc trong nền kinh tế, lao động phổ thông, không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 82,97%; lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ 4,71%; lao động có trình độ trung cấp (bao gồm cả trung cấp chuyên nghiệp) là 3,65%; và lao động có trình độ từ cao đẳng (bao gồm cả cao đẳng nghề), đại học trở lên chiếm 8,67%. Nói cách khác, đại đa số lao động Việt Nam vẫn là “lao động phổ thông”, lao động làm việc ở những khu vực có kỹ năng thấp, năng suất lao động thấp. Chất lượng nguồn nhân lực thấp không chỉ ở “tỷ lệ qua đào tạo” mà còn thể hiện ở kỹ năng, năng lực làm việc của người lao động được đào tạo. Thực tế cho thấy, kỹ năng, năng lực thực hành của lao động qua đào tạo của Việt Nam phần lớn chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng lao động và sau khi tuyển dụng các doanh nghiệp phải đào tạo lại. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), có đến 60% số người đã qua đào tạo không biết làm việc với chuyên môn và trình độ được đào tạo. Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Chất lượng của lao động Việt Nam thấp, nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần. Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Theo các chuyên gia kinh tế, cơ cấu dân số và cơ cấu lao động có tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế. Nếu tận dụng được cơ cấu dân số vàng thì có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Theo một tính toán, cứ tăng 1% dân số có việc làm của nhóm 15-59 tuổi thì GDP sẽ tăng lên 0,36% (VIDS và UNFPA, 2015). Với những số liệu nêu trên cho thấy,Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn trước cơ hội cơ cấu dân số vàng, đó là: Chưa toàn dụng được lao động trẻ (tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trẻ cao); và chưa nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực trẻ (tỷ lệ lao động có kỹ năng, có chuyên môn nghiệp vụ thấp). Nếu không giải được bài toán này, thì cơ hội cơ cấu dân số vàng của Việt Nam sẽ trôi qua và không bao giờ lặp lại được nữa. Thách thức này đòi hỏi Việt Nam phải quyết liệt hơn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thông qua việc nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, đặc biệt là chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Cần phải có những giải pháp đồng bộ để có một LLLĐ trẻ không chỉ có trình độ chuyên môn giỏi và phải có các kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập (có ngoại ngữ, có kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm trong môi trường đa văn hóa). Mất dần lợi thế lao động giá rẻ Từ giác độ nguồn nhân lực, bên cạnh thách thức trước “cơ hội cơ cấu dân số vàng” Việt Nam còn đứng trước một thách thức cũng rất cơ bản khác, ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng, đó là lợi thế lao động giá rẻ mất dần. Khi mới ở những năm đầu của “mở cửa”, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thấy được chi phí lao động thấp ở Việt Nam nên đã đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam (mặc dù với những công nghệ trung bình hoặc thấp). Các doanh nghiệp FDI chủ yếu tập trung vào hoạt động gia công, lắp ráp, nguyên vật liệu chủ yếu nhập ngoại nên giá trị gia tăng chưa cao, điển hình là các hoạt động lắp ráp ô tô, xe máy, điện – điện tử, may mặc, da giầy. Thời gian vừa qua các doanh nghiệp FDI đã thu hút được nhiều lao động phổ thông vào làm việc trong những công đoạn đơn giản của dây chuyền sản xuất công nghiệp. Theo báo cáo của Bộ kế hoạch và Đầu tư, hiện nay, khu vực FDI đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 3,2 triệu lao động trực tiếp và 3 – 4 triệu lao động gián tiếp. Đây là một thực tế quan trọng trong giai đoạn đầu của thời kỳ cơ cấu dân số vàng, góp phần rất quan trọng vào giải quyết việc làm và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt nam. Tuy nhiên, khi Việt Nam Hội nhập sâu và rộng với kinh tế thế giới và khu vực, mức độ cạnh tranh sản phẩm ngày càng tăng lên, thậm chí ngày càng gay gắt. Do vậy, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm là yêu cầu sống còn đối với doanh nghiệp. Điều này, song song với đầu tư đổi mới công nghệ, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng lao động, hàm lượng chất xám trong chất lượng sản phẩm phải tăng lên. Để nâng cao giá trị sản phẩm Việt Nam trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, đòi hỏi những vị trí việc làm với những kỹ năng nghề nghiệp và trình độ nghề nghiệp cao. Lao động phổ thông sẽ dần giảm đi trong tổng nhân lực của các doanh nghiệp và thay vào đó là lao động có kỹ năng. Như vậy, tạo ra lực lượng có kỹ năng thông qua giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp là nhu cầu khách quan của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh cao. Lao động giá rẻ không còn là lợi thế của Việt Nam trong tương lai gần nữa và nếu không nhanh chóng có chiến lược đào tạo phù hợp, LLLĐ giá rẻ này sẽ lại trở thành rào cản và nguy cơ bị thất nghiệp cao, ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống an sinh xã hội quốc gia./. Cơ cấu dân số vàng- cơ hội và thách thức Như đã biết, dân số nước ta đã vượt ngưỡng 90 triệu người từ đầu năm 2014 và cho đến thời điểm này chúng ta vẫn đang thuộc nhóm nước có cơ cấu dân trẻ, mặc dù đã có xu hướng già hóa dân số. Mỗi năm nước ta có khoảng 1,2-1,3 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao động và tham gia vào thị trường lao động. Đây là nhân tố rất quan trọng để đổi mới lực lượng lao động (LLLĐ) theo hướng “trẻ hóa”, là nhân tố để tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế. Đương nhiên, để tăng năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế còn có nhiều nhân tố khác tác động tới. Tuy nhiên, dưới giác độ nhân khẩu học, đây là một trong những nhân tố rất quan trọng.

lợi thế nhân khẩu học giá rẻ, viet-nam

Lợi thế nhân khẩu học giá rẻ Việt Nam – Ảnh minh họa: Phattrienbenvung21.com

Vấn đề đặt ra là chúng ta có tận dụng được cơ cấu dân số vàng này không. Cũng cần nhắc lại, theo khái niệm về “cơ cấu dân số vàng” thì một quốc gia được coi có cơ cấu dân số vàng là khi trong cơ cấu dân số cứ hai người trong độ tuổi lao động (từ 15 tuổi đến 64 tuổi) thì chỉ có một người phụ thuộc (trên 64 tuổi và dưới 15 tuổi). Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” là cơ hội duy nhất, chỉ xuất hiện một lần trong lịch sử phát triển dân số của mỗi quốc gia. Quốc gia nào tận dụng được cơ hội, khai thác được LLLĐ này thì sẽ phát triển thịnh vượng. Ngược lại, sẽ phải tốn rất nhiều nguồn lực khác để bù đắp cho việc không tận dụng được cơ hội; nhất là khi dân số bước vào ngưỡng già hóa “một người làm nuôi hai người phụ thuộc”. Nếu như trước đây, lợi thế lớn nhất của Việt Nam là có LLLĐ dồi dào và cơ cấu lao động “trẻ”, thì đến nay lợi thế này đã bắt đầu bị suy giảm vì nước ta đã vào ngưỡng của “dân số già”, tỷ lệ người cao tuổi đã chiếm trên 10% dân số. Giai đoạn hiện nay là giai đoạn “vàng” cho việc phát huy LLLĐ trẻ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, rất tiếc, việc tận dụng lao động trẻ chưa hiệu quả, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trẻ luôn ở mức cao trong những năm gần đây. Theo kết quả điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê năm 2014, số người thất nghiệp trong nhóm tuổi thanh niên (15-24 tuổi) chiếm tới 47,0% tổng số người thất nghiệp. Muốn tận dụng được cơ hội này, nghĩa là chúng ta phải tìm mọi biện pháp “toàn dụng” được lao động, khai thác, sử dụng tối đa nhóm lao động trong tuổi nêu trên. Để làm được việc đó, cần phải có một lực lượng được đào tạo, có kỹ năng nghề nghiệp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao và đa dạng của thị trường lao động. Tuy nhiên, thực tế, cho đến nay, nhiều chuyên gia kinh tế và dân số học cho rằng chúng ta để cơ hội sắp trôi qua, đó là khi LLLĐ của Việt Nam chất lượng còn rất thấp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong giai đoạn 2011-2014, trong LLLĐ đang làm việc trong nền kinh tế, lao động phổ thông, không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 82,97%; lao động đã qua đào tạo nghề chỉ chiếm tỷ lệ 4,71%; lao động có trình độ trung cấp (bao gồm cả trung cấp chuyên nghiệp) là 3,65%; và lao động có trình độ từ cao đẳng (bao gồm cả cao đẳng nghề), đại học trở lên chiếm 8,67%. Nói cách khác, đại đa số lao động Việt Nam vẫn là “lao động phổ thông”, lao động làm việc ở những khu vực có kỹ năng thấp, năng suất lao động thấp. Chất lượng nguồn nhân lực thấp không chỉ ở “tỷ lệ qua đào tạo” mà còn thể hiện ở kỹ năng, năng lực làm việc của người lao động được đào tạo. Thực tế cho thấy, kỹ năng, năng lực thực hành của lao động qua đào tạo của Việt Nam phần lớn chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao của người sử dụng lao động và sau khi tuyển dụng các doanh nghiệp phải đào tạo lại. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB), có đến 60% số người đã qua đào tạo không biết làm việc với chuyên môn và trình độ được đào tạo. Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao. Nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và doanh nghiệp về tay nghề và các kỹ năng mềm khác. Chất lượng của lao động Việt Nam thấp, nên năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp ở Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó, thấp hơn Singapore gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần. Năng suất lao động của Việt Nam bằng 1/5 Malaysia và 2/5 Thái Lan. Theo các chuyên gia kinh tế, cơ cấu dân số và cơ cấu lao động có tác động trực tiếp tới tăng trưởng kinh tế. Nếu tận dụng được cơ cấu dân số vàng thì có tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Theo một tính toán, cứ tăng 1% dân số có việc làm của nhóm 15-59 tuổi thì GDP sẽ tăng lên 0,36% (VIDS và UNFPA, 2015). Với những số liệu nêu trên cho thấy,Việt Nam đang đứng trước thách thức rất lớn trước cơ hội cơ cấu dân số vàng, đó là: Chưa toàn dụng được lao động trẻ (tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm lao động trẻ cao); và chưa nâng cao được chất lượng nguồn nhân lực trẻ (tỷ lệ lao động có kỹ năng, có chuyên môn nghiệp vụ thấp). Nếu không giải được bài toán này, thì cơ hội cơ cấu dân số vàng của Việt Nam sẽ trôi qua và không bao giờ lặp lại được nữa. Thách thức này đòi hỏi Việt Nam phải quyết liệt hơn trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thông qua việc nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, đặc biệt là chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Cần phải có những giải pháp đồng bộ để có một LLLĐ trẻ không chỉ có trình độ chuyên môn giỏi và phải có các kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập (có ngoại ngữ, có kỹ năng hợp tác, làm việc theo nhóm trong môi trường đa văn hóa). Mất dần lợi thế lao động giá rẻ Từ giác độ nguồn nhân lực, bên cạnh thách thức trước “cơ hội cơ cấu dân số vàng” Việt Nam còn đứng trước một thách thức cũng rất cơ bản khác, ảnh hưởng tới chất lượng tăng trưởng, đó là lợi thế lao động giá rẻ mất dần. Khi mới ở những năm đầu của “mở cửa”, nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã thấy được chi phí lao động thấp ở Việt Nam nên đã đầu tư mạnh mẽ vào Việt Nam (mặc dù với những công nghệ trung bình hoặc thấp). Các doanh nghiệp FDI chủ yếu tập trung vào hoạt động gia công, lắp ráp, nguyên vật liệu chủ yếu nhập ngoại nên giá trị gia tăng chưa cao, điển hình là các hoạt động lắp ráp ô tô, xe máy, điện – điện tử, may mặc, da giầy. Thời gian vừa qua các doanh nghiệp FDI đã thu hút được nhiều lao động phổ thông vào làm việc trong những công đoạn đơn giản của dây chuyền sản xuất công nghiệp. Theo báo cáo của Bộ kế hoạch và Đầu tư, hiện nay, khu vực FDI đã tạo công ăn việc làm cho khoảng 3,2 triệu lao động trực tiếp và 3 – 4 triệu lao động gián tiếp. Đây là một thực tế quan trọng trong giai đoạn đầu của thời kỳ cơ cấu dân số vàng, góp phần rất quan trọng vào giải quyết việc làm và góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Việt nam. Tuy nhiên, khi Việt Nam Hội nhập sâu và rộng với kinh tế thế giới và khu vực, mức độ cạnh tranh sản phẩm ngày càng tăng lên, thậm chí ngày càng gay gắt. Do vậy, tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm là yêu cầu sống còn đối với doanh nghiệp. Điều này, song song với đầu tư đổi mới công nghệ, đòi hỏi phải nâng cao chất lượng lao động, hàm lượng chất xám trong chất lượng sản phẩm phải tăng lên. Để nâng cao giá trị sản phẩm Việt Nam trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu, đòi hỏi những vị trí việc làm với những kỹ năng nghề nghiệp và trình độ nghề nghiệp cao. Lao động phổ thông sẽ dần giảm đi trong tổng nhân lực của các doanh nghiệp và thay vào đó là lao động có kỹ năng. Như vậy, tạo ra lực lượng có kỹ năng thông qua giáo dục đào tạo, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp là nhu cầu khách quan của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh cao. Lao động giá rẻ không còn là lợi thế của Việt Nam trong tương lai gần nữa và nếu không nhanh chóng có chiến lược đào tạo phù hợp, LLLĐ giá rẻ này sẽ lại trở thành rào cản và nguy cơ bị thất nghiệp cao, ảnh hưởng tiêu cực đối với hệ thống an sinh xã hội quốc gia./.

PGS.TS. Mạc Văn Tiến – Ths. Nguyễn Thị Bích Thúy

Nguồn: bhxhbqp.vn

Check Also

Tại sao cần phát triển văn hóa bền vững ?

Tại sao cần phát triển văn hóa bền vững ? Bởi vì “Văn hóa giữ …

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.