google-site-verification=tqyZ3VHK2ppgN1GkzQ9JO8nR1MAGlWasNVgMbEMbp6c
Home / BỀN VỮNG VỀ MÔI TRƯỜNG / Quản lý bền vững đại dương: Dữ liệu mới và các lý do để lạc quan

Quản lý bền vững đại dương: Dữ liệu mới và các lý do để lạc quan

Quản lý bền vững đại dương – Sustainable Ocean Management: New Data and Reasons for Optimism

2015•11•18 Robert Blasiak and Kaoru Ichikawa United Nations University, Nobuyuki Yagi University of Tokyo

Hãy bắt đầu với vài tin tức tốt nhé. Hồi đầu tháng này, chúng tôi đã xuất bản kết quả của những phát hiện đầu tiên từ một nghiên cứu lớn về nhận thức của công chúng về các lợi ích được cung cấp bởi đại dương – nghiên cứu tiến hành theo dự án có tên là NEOPS. Các chỉ số kết quả cho thấy một cơ sở rộng lớn đáng ngạc nhiên dựa vào sự hiểu biết và hỗ trợ cho việc quản lý đại dương bền vững thông qua các đảng phái chính trị, các nhóm tuổi, và thậm chí là sự gần gũi của cộng đồng với đại dương. Quan trong hơn, nó nhấn mạnh sự chính xác mà các loại hành động của công chúng sẵn sàng thực hiện để hỗ trợ quản lý bền vững đại dương.

Nhưng, lần đầu tiên, trong bối cảnh rộng lớn hơn: một chủ đề phổ biến trong báo cáo các vấn đề về môi trường là để khẳng định rằng (1) bây giờ là thời điểm thích hợp cho hành động và, nếu quá trình thực hiện quyết định bị chùn bước hoặc các mục tiêu vẫn chưa được đáp ứng, (2) cộng đồng quốc tế như là mạng lưới bị khóa trong vô vọng và không có khả năng phối hợp hành động trên quy mô cần thiết.

Các đại dương dường như là để phù hợp với mô hình này một cách hoàn hảo. Các ranh giới trước đây vốn đã lõng lẽo, nghĩa là các nguồn cá từ đại dương, các chất dinh dưỡng từ dòng chảy nông nghiệp, và nhiều thứ khác có thể dễ dàng di chuyển qua các biên giới hàng hải quốc tế. Hơn nữa, mặc dù Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) chính thức hóa một loạt các khu đặc quyền kinh tế (EEZ) thường được mở rộng 200 hải lý tính từ đường ranh giới ven biển, một số ranh giới EEZ chính đang bị tranh chấp. Ngoài ra, hơn 60% diện tích bề mặt của đại dương là một vùng xám với một khuôn khổ quản trị hạn chế và thậm chí còn ít được giám sát, được biết đến là các cùng biển ngoài khơi.

Phải thừa nhận rằng, đó là một thách thức lớn, nhưng bất cứ ai tin vào luận cứ rằng cộng đồng quốc tế không có khả năng giải quyết những vấn đề lớn sẽ ngạc nhiên một cách hạnh phúc bởi ví dụ của Nghị định thư Montreal về việc sử dụng chất chlorofluorocarbons (CFCs). Trong những năm 1970, các nhà khoa học phát hiện ra rằng chất CFCs đã có khả năng nhập vào lớp ozone bảo vệ của trái đất, nơi mà chúng phá vỡ thành các yếu tố cấu thành và sau đó sẽ gây ra các liên kết trong các phân tử ozone để hòa tan. Đến những năm 1980, dữ liệu của NASA đã xác nhận rằng một lỗ thủng ôzôn được mở rộng ở Nam cực. Trong thời hạn 25 năm của việc phê chuẩn Nghị định thư Montreal vào năm 1987, tuy nhiên, việc sản xuất và sử dụng chất CFCs đã giảm một cách chóng mặt, tỷ lệ ozone đã ổn định và phục hồi mức ozone như trước năm 1980 được dự báo vào năm 2030.

Kết quả của một mô hình được công bố hồi đầu năm nay cho thấy rằng nếu tình trạng hiện tại đã chiếm ưu thế, lỗ thủng ôzôn hiện nay sẽ lớn hơn 40%, với mức tăng tương ứng trong các bệnh ung thư da và các tác động tiêu cực khác.

Vì vậy, các giải pháp để chiến thắng là những gì? Vâng, đã có phân tích khoa học cẩn thận của các hệ thống tự nhiên, và có hoạch định chính sách quốc tế có hiệu quả. Nhưng các yếu tố kết nối dường như để có được hiệu quả cao từ các nỗ lực của truyền thông và các mối quan tâm cộng đồng bền vững (mặc dù, ngay cả vào giữa những năm 1980, ngành công nghiệp CFCs đã vận động chính sách, cho rằng khoa học là không thể kết luận và không có nhu cầu đối với các quy định).

Nhận thức của công chúng về các đại dương

Nghiên cứu của chúng tôi – “Dịch vụ hệ sinh thái biển: Nhận thức về tính tất yếu và các con đường để các công dân tham gia trong việc sử dụng bền vững”, được công bố trên tạp chí số ra tháng 12 năm 2015 của Tạp chí khoa học Marine Policy và có sẵn tạp chí trực tuyến ngay bây giờ – Xem xét cụ thể tại các mức độ của mối quan tâm cộng đồng liên quan đến đại dương. Một khảo sát đã được sử dụng để xác định không chỉ sự nhận thức của cộng đồng về lợi ích, cái mà xuất phát từ các đại dương như thế nào (được biết đến như là dịch vụ hệ sinh thái), mà còn là hành động gì, nếu có, họ sẵn sàng thực hiện để đảm bảo việc bảo tồn và sử dụng bền vững của các dịch vụ hệ sinh thái biển.

Theo phản hồi từ gần 1.500 người dân trên khắp Hoa Kỳ, có chỗ đáng để chúng ta lạc quan. Những người được hỏi cho thấy rằng có chút khác biệt về nhận thức giữa khai niệm về đại dương “của chúng ta” và đại dương “của họ”, nhưng thay vì xem nó như là thế giới chung ngang bằng với khí quyển.

Đầu tiên, một sự hợp tác mạnh mẽ là được tìm thấy giữa nhận thức tất yếu và tình trạng hiện tại của dịch vụ hệ sinh thái biển tại Mỹ cũng như toàn cầu. Đề nghị này là đáp lại một sự khác biệt nhỏ giữa đại dương “của chúng ta” và đại dương “của họ”, nhưng thay vì xem nó như là thế giới chung ngang bằng với khí quyển. Vì thế nó cũng cho thấy một sự hiểu biết rộng rãi rằng các vấn đề đại dương của địa phương sẽ không còn trong thời gian dài – ô nhiễm đại dương hoặc axit hóa, ví dụ, có ảnh hưởng đến sinh vật biển trên thế giới, sẽ không phân biệt nguồn gốc của khí thải.

Thứ hai, trong số một loạt các hành động tiềm năng để hỗ trợ quản lý đại dương bền vững, bởi đến nay sự đối lập lớn nhất được thể hiện hướng đến thuế. Trong khi đó, hầu như không có sự đối lập nào để mua các sản phẩm xanh (green productions) hoặc hỗ trợ các công ty sinh thái thân thiện. Tương tự như vậy, có một mối tương quan tích cực mạnh mẽ giữa các độ tuổi và thái độ chống thuế. Khoảng 25% số người được hỏi ở độ tuổi 20 phản đối thuế để hỗ trợ quản lý đại dương bền vững, nhưng trong số người được hỏi ở tuổi 60, con số này đã tăng gấp đôi lên hơn 50% bởi một câu hỏi tương tự. Mặt khác, hỗ trợ các doanh nghiệp cam kết thúc đẩy quản lý đại dương bền vững bị phản đối bởi ít hơn 15% số người được hỏi trên toàn bộ quang phổ điều tra.

Quản lý bền vững đại dương

Quản lý bền vững đại dương

Figure 1: Percentage of respondents, by age group, opposed to a tax to promote sustainable ocean management (solid blue line = female respondents; slashed brown line = male respondents).

Thứ ba, không có mối tương quan nào được tìm thấy giữa nhận thức về tính tất yếu của các dịch vụ hệ sinh thái biển và đảng phái chính trị như là biện pháp chống laik Cook Partisan Voting Index. Hơn nữa, cũng không có sự tương quan giữa thái độ chống thuế và đảng phái chính trị. Đây có lẽ là phát hiện đáng ngạc nhiên nhất, như chính trị Mỹ đã có mô tả đặc trưng của sự phát triển ngày càng phân cực, với sự hỗ trợ cho bảo vệ môi trường và không có các quy định kiểm soát thị trường tự do xem như việc sắp xếp với các cực đối lập của các phe phái chính trị. Những kết quả nghiên cứu rộng lớn hơn nhiều, mặc dù không nói ra, sự đồng thuận về tầm quan trọng của dịch vụ hệ sinh thái biển và các hình thức tương ứng của hợp tác để duy trì chúng.

Figure 2: Aggregate perceptions of indispensability and willingness to pay a tax for sustainable ocean management versus Cook Partisan Voting Index ratings (each dot represents one state).

Thứ tư, sự tương ứng trong câu trả lời khá gần nhau của các cử tri về các đại dương không được tìm thấy trong tương quan với nhận thức của họ về tính tất yếu của tình trạng hiện tại của các hệ sinh thái biển. Những người trả lời ở các quốc gia có biển như Utah, Montana và Kentucky, ví dụ, đã có nhận thức tổng hợp gần như giống hệt nhau về các giá trị của hệ thống biển cũng giống như câu trả lời từ các quốc gia ven biển như Hawaii, Florida hay Rhode Island.

Kết quả cuối cùng có thể có được vì mối quan hệ lịch sử tương đối ngắn của nhiều cộng đồng ven biển tại Mỹ. Một nghiên cứu so sánh về thái độ cộng đồng được thực hiện tại Nhật Bản, ví dụ, tìm nhận thức của “dịch vụ hệ sinh thái văn hóa” là hầu hết bị ràng buộc mạnh mẽ nhất để sẳn sàng hành động cho việc bảo tồn hệ sinh thái bờ biển. Trọng tâm văn hóa mạnh mẽ này có thể bị truy ngược trở lại khái niệm của Satoyama và Satoumi, nơi nhiều thế hệ của con người liên kết gần gũi với thiên nhiên đã dẫn đến kết quả trong các mảnh ghép đa dạng của các hình thức khác nhau của hoạt động sản xuất bền vững trong cảnh quan và phong cảnh đại dương tương ứng.

Thứ năm, kết quả của nghiên cứu này đề nghị rằng chúng có thể sẳn sàng để được xem xét trong nền tảng chung trên cơ sở xây dựng và khuyến khích thúc đẩy các vấn đề quản lý bền vững đại dương. Hơn thế nữa, mặc dù khẳng định rằng gần đến hệ sinh thái sản phẩm của hàng hóa và dịch vụ từ các lợi ích trong việc thực hiện quản lý bền vững, những phát hiện này cho thấy rằng phân biệt như thế có thể làm yếu cho các hệ thống của biển hơn các hệ thống trên mặt đất.

Cuối cùng, thái độ chống thuế mạnh mẽ có thể được ràng buộc bởi các quy định của văn hóa tại Mỹ, nhưng sự vằng mặt ảo của phe đối nghịch để hỗ trợ kinh tế xanh, doanh nghiệp xanh hoặc mua các sản phẩm xanh cho thấy rằng các sáng kiến tự nghuyện từ dưới lên trên là một nguy cơ thấp và con đường tiềm năng đáng kể để quản lý bền vững đại dương hơn trong tương lai.

Trong ý nghĩa địa chính trị năm 2015 có thể là một năm quan trọng đối với các đại dương. Phát triển bền vững, tại Mục tiêu số 14 để “bảo tồn và sử dụng bền vững các đại dương, biển và tài nguyên biển để phát triển bền vững” đã chính thức được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào tháng Chín. Tương tự như vậy, trong năm 2015, bước đầu tiên đã được thực hiện đối với việc bảo vệ đa dạng sinh học ở các vùng biển lớn, với các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc chính thức đồng ý đầu năm nay để phát triển một công cụ ràng buộc pháp lý cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học trong khu vực vượt quá thẩm quyền của mỗi quốc gia. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là kết quả của các cuộc đàm phán cấp cao về khí hậu được tổ chức tại Paris vào cuối tháng này có thể sẽ có một tác động lâu dài trong việc axit hóa đại dương và do chính những nền tảng của các hệ sinh thái biển.

Có thể hy vọng rằng sự kết hợp này của hành động chính sách, kiến thức khoa học rộng lớn và lợi ích công cộng sẽ kết hợp lại một lần nữa để tạo ra những thành công rất cần thiết nếu so sánh với năm 1987 của Nghị định thư Montreal.

Nghiên cứu này đã được hỗ trợ, một phần là do các dự án năm năm mang tên New Ocean Paradigm trên Biogeochemistry, hệ sinh thái, và sử dụng bền vững (NEOPS) thông qua Grant-in-Aid cho nghiên cứu khoa học về khu vực sáng tạo. Thông tin thêm về các kết quả dự án và nghiên cứu được đăng tải trên trang web NEOPS.

—————————————————————

Quản lý bền vững đại dương: Dữ liệu mới và các lý do để lạc quan được viết bởi Robert Blasiak, Kaoru Ichikawa và Nobuyuki Yagi dưới giấy phép Creative Commons Attribution-NonCommercial-ShareAlike 4.0 International License.

—————————————————————
Về các tác giả:
1.Robert Blasiak – United Nations University

Robert Blasiak is a Research Fellow at the University of Tokyo Graduate School of Agricultural and Life Sciences, where he is studying how international cooperation can contribute to sustainable fisheries management. He also currently works with the Fukushima Global Communication Programme at the United Nations University Institute for the Advanced Study of Sustainability (UNU-IAS) and previously worked with the Institute’s Satoyama Initiative. He holds a BA from the University of Massachusetts-Amherst, an MSc from Lund University and a PhD from the University of Tokyo.

Nobuyuki Yagi – University of Tokyo

Dr. Nobuyuki Yagi is Associate Professor at the University of Tokyo. The area of his study includes economic development and marine policy. Before joining the University in 2008, he worked for the Fisheries Agency of the Government of Japan. From 1999 to 2002, he was First Secretary at the Embassy of Japan in Washington DC, US. He served as a bureau member for OECD Committee for Fisheries from 2003 to 2008. He received a graduate degree (MBA) from the Wharton School (Class of 1994) of University of Pennsylvania, Philadelphia, US, and doctoral degree from the Graduate School of Agricultural and Life Sciences, the University of Tokyo, Japan, in 2008.

Kaoru Ichikawa – Research FellowUnited Nations University

Kaoru Ichikawa is a research fellow at the United Nations University Institute for the Advanced Study of Sustainability (UNU-IAS) where she works with the Satoyama Initiative.

Nguồn: http://ourworld.unu.edu/

Dịch bởi: phattrienbenvung21.com

Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương, Quản lý bền vững đại dương

Check Also

Tình trạng sa mạc hóa ở Việt Nam và những cảnh báo

Tình trạng sa mạc hóa là một trong những thách thức môi trường lớn nhất …

Leave a Reply

Your email address will not be published.

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.